Truy cập

Hôm nay:
270
Hôm qua:
303
Tuần này:
270
Tháng này:
5643
Tất cả:
169252

Ý kiến thăm dò

                                                                                                                                                                                          

       ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH, KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ LẦN THỨ XXVI, NHIỆM KỲ 2010 - 2015

         

          Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XXVI, nhiệm kỳ 2010-2015, trong điều kiện có những thuận lợi cơ bản đó là: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được tăng cường, tình hình chính trị, xã hội ổn định, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được vận dụng phù hợp vào tình hình thực tiễn của địa phương, tạo được sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân.

Bên cạnh những thuận lợi còn gặp không ít những khó khăn, thách thức bởi kinh tế đất nước còn khó khăn, Chính phủ thắt chặt đầu tư công, sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép vào vùng biển nước ta và những hoạt động tranh chấp ngư trường trên biển đã tác động đến tâm lý, tư tưởng của một bộ phận nhân dân. Mặt khác, thời tiết diễn biến thất thường, giá cả thị trường không ổn định, dịch bệnh ở người, cây trồng và đàn gia súc, gia cầm luôn tiềm ẩn phức tạp.

Trong tình hình đó được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền, các ban, phòng, ngành cấp trên, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã đoàn kết khắc phục khó khăn, nên tình hình KT-XH; QP-AN; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong nhiệm kỳ qua đạt được nhiều kết quả khởi sắc. Kinh tế tăng trưởng  khá, VH-XH chuyển biến tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao, ANCT-TTATXH được giữ vững. Hệ thống chính trị được củng cố vững chắc. Kết quả trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

 

A.   NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC.

Các chỉ tiêu chủ yếu đạt được so với Nghị quyết Đại hội.

TT

 

Nội dung chỉ tiêu

Chỉ tiêu Đại hội nhiệm kỳ

2010-2015

Thực hiện nhiệm kỳ

2010-2015

  So sánh

  TH/KH

1

Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân

15,5%

16,0%

Vượt KH

2

Cơ cấu KT:  + N-L-TS

                    + CN-XD

                    + DV-TM

33,0%

25,5%

41,5%

32,5%

29,7%

37,8%

 

Đạt KH

3

 Sản lượng lương thực bình quân hàng năm

2.200 Tấn

2.210 Tấn

Vượt KH

4

Giá trị/ha canh tác

45 Trđ

69,6 Trđ

Vượt KH

5

 Sản lượng thủy sản bình quân hàng năm

3.000 Tấn

3.050 Tấn

Đạt KH

6

Tổng thu NS hàng năm

1.129 Trđ

2.500 Trđ

Vượt KH

7

Thu nhập bình quân đầu người/năm

8,5-9,0 Trđ

9,3 Trđ

Vượt KH

8

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm

0,5%

0,8%

Không đạt

9

Số LĐ được giới thiệu việc làm hàng năm

100 LĐ trở lên

508 LĐ

Vượt KH

10

Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm

2-3%

2,3%

Đạt KH

11

Số trường học đạt chuẩn Quốc gia

01 Trường

    0 Trường

Không đạt

12

Xã đạt chuẩn QG về y tế

Đạt

Đạt

Đạt KH

13

Tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh

95%

98%

Vượt KH

14

TCCS Đảng TSVM hàng năm

           80%

          80%

Đạt KH

15

Kết nạp đảng viên mới hàng năm

    5 ĐV trở lên

   7 ĐV

Vượt KH

16

Đảng bộ hàng năm đạt

 

 

        TSVM

 

 

 

Năm 2010; 2011 HTTNV; Năm 2012 HTNV; Năm 2013 TSVM; Năm 2014 HTTNV

Không đạt

 

I. Về phát triển kinh tế: Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 16,0%, tăng 0,5% so với KH.

1. Sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản: Giá trị sản xuất chiếm 32,5%, giảm 0,5% so với KH; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, phần lớn nhân dân mở rộng hình thức sản xuất, áp dụng các tiến bộ KHKT, chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất, chăn nuôi các loại con giống mới, khai thác đánh bắt và nuôi trồng thủy sản tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao.

Trồng trọt: Sản lượng lương thực bình quân đạt 2.210 tấn = 100,5% kế hoạch. Thực hiện tốt công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tích cực chuyển giao tiến bộ KHKT, áp dụng cơ giới hóa vào đồng ruộng, đưa các loại giống cây trồng có năng xuất, giá trị kinh tế cao vào sản xuất như cây ớt, cây thuốc lào, lúa lai..., chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ xuân muộn sang mùa sớm; phối hợp tổ chức mở 36 lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT cho hơn 150 lượt  người tham gia. Bình quân năng suất lúa đạt 55 tạ/ha; lạc 17 tạ/ha; ngô 51 tạ/ha.

 Chăn nuôi: Duy trì và phát triển cả về số lượng và chất lượng đàn gia súc, gia cầm. Nhân dân làm tốt công tác vệ sinh và phòng trừ dịch bệnh. Đồng thời huy động nguồn vốn tự có, vốn vay ngân hàng, vốn ưu đãi vùng khó khăn, vốn của các dự án để cải tạo các loại giống và mở rộng mô hình chăn nuôi nhỏ lẻ theo hướng gia trại. Tổng đàn gia súc, gia cầm bình quân là 62.956 con, trong đó đàn trâu, bò 173 con, đàn lợn 7.139 con, đàn gia cầm 55.644 con.

          Thủy sản: Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản bình quân đạt 3.050 tấn, tăng 50 tấn so với KH. Nhân dân tích cực đầu tư ngư lưới cụ, cải tiến kỹ thuật, đảm bảo cho việc khai thác thủy sản. Các chủ phương tiện thực hiện tốt công tác quản lý phương tiện như đăng ký, đăng kiểm, có giấy phép khai thác thủy sản. Chế biến các loại hải sản có giá trị kinh tế cao phục vụ xuất khẩu cũng như tiêu dùng nội địa, thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm cho nhân dân. Tiêu biểu như công ty chế biến thủy sản Hoàng Việt Á thôn Đông Xuân Vi có nhãn hiệu riêng được Chi cục an toàn vệ sinh thực phẩm Thanh Hóa cấp. Toàn xã hiện nay có 247 phương tiện tham gia khai thác thủy sản (chủ yếu là bè mảng công suất dưới 20CV), có 7 cơ sở chế biến hải sản, trong đó 1 cơ sở chế biến nước mắm, 4 cơ sở chế biến sứa và 2 cơ sở chế biến cá khô.

2. Công nghiệp - Xây dựng:Tỷ trọng sản xuất CN - TTCN - XD đạt mức bình quân 29,7%, tăng 4,2%; Phát triển và duy trì ngành nghề sản xuất hàng mộc, xay xát, chế biến các loại hải sản phục vụ nhu cầu nội địa và xuất khẩu; phối hợp giới thiệu gần 500 lao động làm việc tại các công ty trong huyện, hơn 100 lao động đi xuất khẩu lao động tại thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...có mức thu nhập cao, đảm bảo cuộc sống gia đình và nâng mức thu nhập bình quân trong xã.

3. Dịch vụ - Thương mại: Tỷ trọng sản xuất DV - TM đạt mức bình quân 37,8%. Trong nhiệm kỳ thực hiện Chương trình phát triển du lịch của huyện, của xã tiếp tục đề nghị tỉnh qui hoạch 9ha đất phục vụ du lịch tại thôn Đông Tây Hải tiếp giáp về phía bắc công ty Ánh Phương; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng để mở rộng vùng du lịch; đề nghị các công ty, doanh nghiệp du lịch tiếp nhận trên 100 con em địa phương vào làm việc có thu nhập từ 3 triệu đồng trở lên, ngoài ra vào mùa du lịch có trên 200 hộ gia đình có hình thức sản xuất, kinh doanh phục vụ du khách như: dịch vụ ăn uống, giải khát, giải trí, trông giữ phương tiện, vận tải hành khách, cung cấp thủy hải sản cho nhà hàng và du khách.., tạo việc làm thời vụ cho hơn 600 lao động lúc nhàn rỗi, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế gia đình và ổn định tình hình trật tự tại địa phương.

4. Công tác thu, chi ngân sách: Thu ngân sách là nhiệm vụ quan trọng được chính quyền quan tâm, chi ngân sách được quản lý theo đúng quy định và cơ chế phân cấp hiện hành, điều hành ngân sách bám sát dự toán được giao, phục vụ tốt nhiệm vụ của cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các ban, ngành, đoàn thể... Khai thác nguồn thu ngân sách ở các diện tích thầu, thuê mư­ợn. Thực hiện quản lý tốt về thu, chi ngân sách như chi lương và phụ cấp đúng chế độ, đảm bảo đúng Luật ngân sách, chi hộ các chế độ chính sách, an sinh xã hội…kịp thời và đúng đối tượng. Tổng thu ngân sách bình quân hàng năm đạt 2.500 triệu đồng, tăng 121% so với đầu nhiệm kỳ.

5. Công tác bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên, đất đai: Tăng cường quản lý nhà nước về đất đai, lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ mới cho 573 hộ đủ điều kiện, đạt 96%. Hoàn thành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010-2020, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015. Lập quy hoạch chung về phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội, xây dựng NTM; làm tốt công tác đền bù GPMB, giải quyết các vướng mắc về đất đai. Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện công tác VSMT thường kỳ vào ngày cuối tuần.

6. Xây dựng nông thôn mới: Trong nhiệm kỳ tập trung chỉ đạo xây dựng 23,8 km đường giao thông nông thôn, giao thông nội đồng, 7,15 km kênh tưới, tiêu, tu sửa công sở làm việc, nâng cấp trạm y tế, nhà văn hóa thôn, tiếp nhận hỗ trợ từ dự án quốc phòng Hoa Kỳ để xây dựng Trung tâm phòng tránh thiên tai; phát huy hiệu quả các dịch vụ cung ứng của HTXDV nông nghiệp; quan tâm công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn của trung ương, tỉnh và ngân sách huyện trong đầu tư XD NTM. Chủ trương XDNTM cơ bản được nhân dân ủng hộ và đồng thuận, nhân dân đã hiến trên 100m2 đất, di chuyển 160m tường rào, giải tỏa 825 cây xanh, đóng góp 1,357 tỷ đồng, ủng hộ 360 ngày công, huy động 55 triệu đồng ủng hộ của con em xa quê, nguồn vốn hỗ trợ từ TW, tỉnh, huyện, xã và các dự án khác trên 11 tỷ đồng, vốn vay NHNN, NHCSXH  gần 50 tỷ đồng. Đến hết năm 2015 dự kiến đạt 12/19 tiêu chí (tăng 10 tiêu chí so với thời kỳ đầu XDNTM).

II. Hoạt động văn hóa - xã hội.

1. Văn hóa thông tin, thể dục thể thao: Các hoạt động văn hóa, thông tin đã bám sát nhiệm vụ kinh tế, chính trị, tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các ngày lễ, kỷ niệm của quê hương, đất nước. Chỉ đạo các làng văn hóa thực hiện tốt phong trào “toàn dân đoàn kết XD đời sống văn hóa ở khu dân cư”, thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, việc lễ, hội; khai trương 6 làng và 4 cơ quan văn hóa, trong đó 4/10 đơn vị được công nhận đơn vị văn hóa cấp huyện. Quan tâm xây dựng trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa như: Chùa Hội Long, đền thờ Lê Công Trực... Quản lý chặt chẽ hoạt động internet, karaoke, dịch vụ du lịch trên địa bàn. Tham gia có hiệu quả các cuộc thi VHVN-TDTT do huyện tổ chức.

 2. Về giáo dục và đào tào: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 05 của BCH Đảng bộ Huyện về “Phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2012 – 2015, định hướng đến năm 2020”. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân và phụ huynh học sinh thực hiện công tác xã hội hoá giáo dục để tu sửa trường, lớp, bổ sung trang thiết bị dạy học  đáp ứng yêu cầu giáo dục trong nhà trường. Tập trung chỉ đạo và đưa ra các giải pháp cụ thể, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại trà và chất lượng mũi nhọn ở 3 cấp học. Tỷ lệ học sinh lớp 9 được công nhận tốt nghiệp hàng năm bình quân đạt 98,8%, tỷ lệ học sinh thi đậu THPT bình quân đạt 84,6%; tỷ lệ học sinh tiểu học và THCS lên lớp bình quân đạt 95%; Giữ vững kết quả phổ cập giáo dục Mầm Non trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Bình quân mỗi năm có 48 em thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng. Làm tốt công tác khuyến học, khuyến tài, phát động các gia đình, dòng họ, khu dân cư xây dựng quỹ khuyến học. Tính đến nay quỹ khuyến học toàn xã có hơn 160 trđ, trung bình mỗi năm thưởng trên 50 trđ, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, từng bước xây dựng xã hội học tập ở địa phương. Bên cạch đó, trung tâm học tập cộng đồng đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch, phối hợp với các ngành, đoàn thể, các trường học, HTX dịch vụ sản xuất nông nghiệp mở các lớp đào tạo, tập huấn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản...cho nhân dân.

 3. Y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân: Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân được quan tâm, mạng lưới y tế thôn đội hoạt động thường xuyên. Tổ chức tốt việc tiêm vắc xin phòng viêm não Nhật Bản, Bệnh sởi Rubela, uốn ván, 100% trẻ em trong độ tuổi uống thuốc vitamin A ...Triển khai thực hiện Chỉ thị số 18-CT/HU của BTV Huyện ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác DS-KHHGĐ giai đoạn 2013-2015. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án 52 về kiểm soát dân số vùng ven biển giai đoạn 2009- 2020. Tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Do vậy, xã đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về y tế giai đoạn 2 (2011- 2020).

4. Thực hiện các chính sách an sinh xã hội: Các chính sách an sinh xã hội được triển khai thực hiện kịp thời, làm tốt công tác thăm hỏi, tặng quà cho các đối tượng chính sách nhân ngày lễ, tết. Chi trả tiền trợ cấp đảm bảo đúng và đủ cho các đối tượng bảo trợ xã hội, gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, hộ đơn thân có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; rà soát lập hồ sơ cho các đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên; hồ sơ học sinh, sinh viên được hưởng chế độ ưu đãi vùng bãi ngang. Hỗ trợ xây dựng 59 nhà ở cho đối tượng hộ nghèo có hoàn cảnh đặt biệt khó khăn theo Quyết định 167 của Chính phủ với tổng số tiền 495.600.000đ, chi trả tiền hỗ trợ vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tặng quà nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6 cho các cháu mồ côi, tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn...Thực hiện chương trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo được đảm bảo, tỷ lệ hộ nghèo trung bình hàng năm giảm 2,3%, đến năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo toàn xã còn 17,5%.

III. Công tác quốc phòng – an ninh:

1. Công tác Quốc phòng - Quân sự địa phương: Hàng năm xây dựng kế hoạch tác chiến trị an, an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch phòng chống giảm nhẹ thiên tai, phương án cứu hộ, cứu nạn, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ khi có lệnh điều động trong mọi tình huống xảy ra. Tổ chức đăng ký nam TN ở độ tuổi 17 và quản lý nam TN độ tuổi từ 18-25 thuộc diện sẵn sàng nhập ngũ. Nhiệm kỳ qua đã đưa 52 TN lên đường nhập ngũ, hoàn thành tốt chỉ tiêu giao quân hàng năm. Phúc tra lực lượng dự bị động viên, huấn luyện Dân quân địa phương. Triển khai và thực hiện QĐ 142; QĐ 62 của Thủ tướng Chính phủ, đã hoàn chỉnh 514 hồ sơ đủ điều kiện; hiện nay có 364 đối tượng được hỗ trợ với tổng số tiền là 1.225.200.000đ. Rà soát dân công hỏa tuyến được 711 đối tượng theo hướng dẫn của Ban chỉ huy quân sự huyện; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội.

2. Công tác bảo vệ an ninh trật tự, an toàn toàn xã hội: Công tác ANCT được giữ vững, TTATXH được đảm bảo; Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và các TNXH được tăng cường, xây dựng kế hoạch đảm bảo trật tự an toàn giao thông và trật tự công cộng. Tổ chức thực hiện phối hợp trong các đợt tấn công trấn áp tội phạm, phát động toàn dân tham gia bảo vệ ANTQ. Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị 12-CT/HU của BTV Huyện ủy và Kế hoạch 160/KH-UBND của UBND Huyện về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nguy hiểm, đấu tranh và bài trừ tệ nạn cờ bạc, ma túy... Trong nhiệm kỳ qua Ban Công an xã phối hợp với công an Huyện và các ngành chức năng triệt phá 3 tụ điểm ma túy, 5 điểm ghi đề tạo thế ổn định tình hình, củng cố thế trận lòng dân. Tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 10, Đề án 375 của UBND tỉnh về xây dựng khu dân cư an toàn về ANTT. Phối hợp các cơ quan theo thẩm quyền điều tra, làm rõ và xử lý nghiêm túc, kịp thời, nghiêm minh các vụ việc vi phạm theo quy định của Pháp luật.      

3. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí.

 Công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân tại cơ sở được duy trì thường xuyên. Trong nhiệm kỳ qua đã tiếp nhận 43 đơn, thư. Kết quả giải quyết 41 đơn, thư, còn tồn động 01 đơn; đang giải quyết 01 đơn. Nội dung đơn, thư tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tranh chấp đất đai, đòi bồi thường khi nhà nước thu hồi đất và lĩnh vực chính sách xã hội. Do làm tốt công tác tiếp dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại tố cáo của công dân, nên đã hạn chế được tình hình đơn thư khiếu tố, khiếu nại vượt cấp và kéo dài góp phần ổn định tình hình ANCT và TTATXH trên địa bàn xã.

Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí được tăng cường. Tổ chức triển khai, thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của các cấp ủy Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí đến cán bộ, đảng viên. Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường nên đã hạn chế được nhiều vi phạm, sai phạm.

IV. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

1. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng: Sau khi tiếp thu các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên. BCH Đảng ủy xây dựng kế hoạch mời Ban tuyên giáo Huyện ủy hoặc đồng chí Bí thư đảng bộ trực tiếp quán triệt tới toàn thể cán bộ, đảng viên, tỷ lệ đảng viên tham gia học tập luôn đạt từ 80% trở lên, thái độ học tập nghiêm túc, chấp hành thời gian qui định của ban tổ chức lớp học, giảng viên truyền đạt nghị quyết gắn lý luận với thực tiễn địa phương, giúp đảng viên dễ liên hệ và vận dụng vào cuộc sống. Ngoài ra BCH đảng ủy và các tổ chức chính trị - xã hội thường xuyên tổ chức tốt việc nghiên cứu học tập Chủ nghĩa Mác-Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, đặc biệt gắn với việc thực hiện Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo chủ đề hàng năm và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động sát với thực tế địa phương. Vì vậy, phần lớn cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

2. Công tác tổ chức, cán bộ và đảng viên: Đảng bộ xã hiện nay có 251 đảng viên, sinh hoạt ở 7 chi bộ nông thôn và 3 chi bộ trường học. Nhìn chung các chi bộ tổ chức sinh hoạt định kỳ mỗi tháng 01 lần và phân công giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đảng viên thực hiện, căn cứ mức độ hoàn thành nhiệm vụ, công việc được giao, cuối năm chi bộ bình xét, đánh giá, xếp loại đảng viên. Trong nhiệm kỳ Đảng ủy làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ, cử 10 đ/c đi học Đại học; 12 đ/c học Trung cấp LLCT-HC; Đề nghị bổ nhiệm 03 công chức chuyên môn VH-XH; ĐC-XD, VP-TK, tiếp nhận 02 công chức TP-HT, KT- NS; tiếp nhận, luân chuyển 02 công chức ĐC-XD; KT-NS, tiếp nhận 01 xã đội phó. Thực hiện QĐ của BTV Huyện ủy điều động 01 đ/c HUV về làm Bí thư Đảng bộ.

           Tập trung lãnh chỉ đạo công tác nhân sự cho Đại hội Hội PN nhiệm kỳ 2011-2016. Hội ND, Hội CCB, Đoàn TN nhiệm kỳ 2012- 2017. Đại hội MTTQ nhiệm kỳ 2013-2018 đảm bảo đúng nguồn, chỉ đạo các chi bộ tổ chức Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2012- 2015 và nhiệm kỳ 2015 - 2017 đúng thời gian quy định.

          Công tác phát triển đảng viên được quan tâm, chất lượng, tỷ lệ đảng viên mới ở nông thôn tăng. Nhiệm kỳ qua cử 42 quần chúng ưu tú học lớp nhận thức về đảng, kết nạp 35 đảng viên mới, vượt kế hoạch đề ra. Trong nhiệm kỳ đã trao tặng huy hiệu 65 năm tuổi đảng cho 02 đ/c; 50 tuổi đảng cho 02 đ/c; 40 năm tuổi đảng cho 05 đ/c; 30 năm tuổi đảng cho 44 đ/c; đề nghị và được tỉnh công nhận 9 đ/c LTCM, TKN; trung bình hàng năm có 80% chi bộ đạt TSVM, 80% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; Đảng bộ năm 2010; 2011 đạt HTTNV; 2012 HTNV; 2013 TSVM; 2014 HTTNV.

3. Công tác kiểm tra, giám sát: Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường. Đảng ủy và UBKT Đảng ủy chủ động xây dựng kế hoạch toàn khóa và hàng năm, thực hiện nghiêm túc kế hoạch kiểm tra, giám sát theo chương trình. Nhiệm kỳ qua đã thực hiện 12 cuộc kiểm tra: tổ chức kiểm tra 10/10 chi bộ về chế độ sinh hoạt và quản lý đảng viên, chế độ thu nạp đảng phí, việc ra Nghị quyết của chi bộ, kiểm tra 5/10 chi bộ về thực hiện nhiệm vụ XDNTM. Tổ chức kiểm tra và đề nghị thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống; vi phạm chính sách DS – KHHGĐ sinh con thứ 3; vi phạm về Những điều đảng viên không được làm; sai phạm trong chỉ đạo bầu cử Trưởng thôn Trung Hải.

 Qua kiểm tra, giám sát đã kịp thời uốn nắn, nhắc nhở, xử lý thi hành kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm, góp phần ổn định tình hình, làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên. Nhiệm kỳ qua, Chi bộ, Đảng uỷ và UBKT Huyện ủy đã thi hành kỷ luật 08 đ/c (trong đó: khiển trách 07 đ/c, cảnh cáo 01 đ/c).

4. Công tác dân vận: Từ đầu nhiệm kỳ khối dân vận Đảng ủy đã triển khai đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp ủy Đảng, thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ cơ sở, ban hành các Chỉ thị, kết luận, kế hoạch, tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận. Tăng cường chỉ đạo các chi bộ xây dựng các phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động quỹ: “Ngày vì người nghèo”, “ Từ thiện nhân đạo”; phát động phong trào thi đua “Dân vận khéo”; nhiệm vụ XDNTM,... Cán bộ làm công tác dân vận được củng cố cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu công tác vận động quần chúng trong tình hình mới. Công tác dân vận của chính quyền được quan tâm và hoạt động có hiệu quả. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân từng bước được đổi mới, nội dung và hình thức hoạt động theo hướng gần dân, sát dân, tham gia giải quyết được những vấn đề bức xúc của nhân dân ngay tại cơ sở, góp phần XD hệ thống chính trị vững mạnh.

5. Kết quả triển khai, thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa XI) và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị: Thực hiện Nghị quyết TW4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Chỉ thị 03 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trên cơ sở các văn bản hướng dẫn BCH Đảng ủy đã ban hành các kế hoạch cụ thể để triển khai, học tập nghiêm túc trong toàn Đảng bộ, chi bộ, trong sinh hoạt MTTQ, các đoàn thể chính trị và tuyên truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân.

Qua việc thực hiện Nghị quyết TW4 và Chỉ thị 03 của Bộ chính trị nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân được nâng lên về tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong trào cách mạng Hồ Chí Minh cũng như tự nhận thấy được những hạn chế, khuyết điểm của tập thể, cá nhân trong các lĩnh vực công tác sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình, nhất là về phẩm chất đạo đức, lối sống. Từ đó xây dựng kế hoạch thực hiện, hướng khắc phục, sữa chữa những hạn chế, khuyết điểm, đồng thời rèn luyện nề nếp, tác phong làm việc trong lối sống hàng ngày cũng như việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương.

6. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: Phương thức lãnh đạo của cấp ủy tiếp tục được đổi mới, đảm bảo được sự lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, BCH đảng bộ đã xây dựng và thực hiện chặt chẽ quy chế làm việc, xây dựng chương trình làm việc toàn khóa, từng năm. Quy định rõ chức trách, nhiệm vụ, thẩm quyền của tập thể và cá nhân. Định kỳ hàng năm, từng tháng đều xây dựng chương trình công tác, phân công trách nhiệm cụ thể cho cá nhân, tổ chức thực hiện.Việc phân công các đ/c ĐUV và các ngành phụ trách chỉ đạo vòng 2 đã giúp cấp ủy, chính quyền nắm bắt những vướng mắc ở cơ sở, đồng thời thông tin kịp thời những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của địa phương đến cán bộ, đảng viên và  nhân dân.

BCH Đảng ủy đã quán triệt sâu sắc các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nhanh chóng cụ thể hóa thành các kế hoạch, chương trình hành động sát, đúng với tình hình của địa phương, để tổ chức thực hiện. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện những mặt còn tồn tại, hạn chế để chỉ đạo, thực hiện theo đúng định hướng đề ra.

Thường xuyên tập trung đổi mới quy trình và nâng cao chất lượng ra nghị quyết, phát huy được trí tuệ tập thể, dân chủ trong Đảng. Cơ chế đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý được cụ thể hóa và thực hiện nghiêm túc. Tạo sự đồng thuận, thống nhất giữa cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Trong sinh hoạt cấp ủy đã phát huy được tính dân chủ, nguyên tắc tập trung dân chủ được giữ vững, vai trò của tập thể BCH, BTV và từng cá nhân các đ/c ĐUV.

2. Công tác chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền.

2.1. HH    oạt động của HĐND: Tiếp tục được nâng cao, tại các kỳ họp, việc chất vấn, trả lời chất vấn được chú trọng, dân chủ trong thảo luận và quyết định các vấn đề của địa phương; công tác tiếp xúc cử tri luôn được đổi mới theo hướng dân chủ, sát cơ sở, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân. Nhiều vấn đề cử tri đề xuất, kiến nghị đã kịp thời đấu mối với các cấp, các ngành chức năng giải quyết. Các đại biểu HĐND tích cực giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của chính quyền và những vấn đề cử tri đề xuất, kiến nghị.

2.2. Hoạt động của UBND:

 UBND bám sát chủ trương, nghị quyết của Đảng, của HĐND cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ để tổ chức thực hiện. Hoạt động chỉ đạo, điều hành của UBND xã ngày càng có sự đổi mới theo hướng linh hoạt, sâu sát thực tế, công khai, minh bạch, theo hướng chọn nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm theo thời gian hàng năm và chỉ đạo quyết liệt với quyết tâm cao, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tăng cường kỷ luật hành chính gắn với chức trách nhiệm vụ được giao.

 Thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế một cửa, thủ tục hành chính được đơn giản hóa, đã tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức khi đến giao dịch. Giảm phiền hà, hạn chế các sai phạm, tiết kiệm thời gian. Chỉ đạo tích cực việc thực hiện pháp lệnh dân chủ cơ sở, phát huy dân chủ trong nhân dân; công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được quan tâm.

3. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể.  MTTQ và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của tổ chức mình; tích cực phối hợp với chính quyền vận động, thuyết phục đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện nhiệm vụ; tổ chức phát động các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, xây dựng NTM, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở...Vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng, Chính quyền ngày càng được thể hiện hơn, góp phần bảo đảm ổn định chính trị ở cơ sở.

MTTQ phối hợp thực hiện tốt phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, hưởng ứng chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Phối hợp với MTTQ huyện hỗ trợ, tu sửa nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết cho 25 nhà với tổng số tiền là 487 trđ. Tổ chức Tầm nhìn Thế giới hỗ trợ xây dựng nhà ở cho 8 hộ nghèo trị giá 160 trđ. Trong nhiệm kỳ qua đã vận động ủng hộ quỹ ngày vì người nghèo với số tiền là 49,7 trđ, quỹ từ thiện nhân đạo 56 trđ. Phối hợp tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc cử tri, có các giải pháp đa dạng hóa các hình thức tập hợp và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tham gia giám sát và phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền. Hoạt động của ban giám sát cộng đồng, thanh tra nhân dân được duy trì, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Chính quyền.

Hội PN đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước như phong trào phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng mô hình “5 không 3 sạch”, “Phụ nữ phát triển kinh tế, giúp nhau xóa đói giảm nghèo”, vận động quỹ mái ấm tình thương số tiền là 16 trđ, tổ chức hội thi phụ nữ “Chung tay xây dựng NTM” và tín chấp với ngân hàng cho hội viên vay 13 tỷ đồng để phát triển kinh tế.

Hội ND tiếp tục đẩy mạnh các phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi”, đoàn kết giúp nhau xóa đói giảm nghèo và làm giàu chính đáng...Phối hợp tổ chức 21 lớp chuyển giao các tiến bộ KHKT về trồng trọt, chăn nuôi và tín chấp với ngân hàng cho hội viên vay vốn để sản xuất, kinh doanh là 20,1 tỷ đồng.

Hội CCB phát huy tốt phẩm chất “Bộ đội cụ Hồ”. Tích cực tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, Chính quyền, phối hợp làm tốt việc chăm lo giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, thực hiện các cuộc vận động ủng hộ giúp hội CCB Lào 4,6 trđ, ủng hộ xây dựng nhà nghĩa tình đồng đội CCB 01 nhà số tiền là 31,4 trđ. Tín chấp cho hội viên vay vốn 4,7 tỷ đồng để phát triển kinh tế.

Đoàn TN luôn phát huy vai trò xung kích, tiên phong, sáng tạo, xung kích phát triển KT – XH và bảo vệ tổ quốc, đồng hành với TN trên con đường lập thân, lập nghiệp. Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thụ, truyền thống, lý tưởng, đạo đức, lối sống cho TTN; tích cực tham gia xây dựng Đảng, bồi dưỡng và giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp vào Đảng. Tham gia vận động các loại quỹ đóng góp xây dựng Trường sa, ủng hộ Mường Lát kết nghĩa, xây dựng đền thờ Lê Hữu Lập...và tín chấp cho ĐVTN vay vốn phát triển kinh tế 3,5 tỷ đồng.

Công đoàn cơ sở tổ chức giúp đỡ đoàn viên gặp khó khăn, chăm lo đời sống lợi ích hợp pháp cho cán bộ, đoàn viên. Tăng cường các hoạt động xã hội và làm tốt các hoạt động ủng hộ các loại quỹ nhân đạo, từ thiện…

Hoạt động của các hội quần chúng như Hội NCT, Hội KH, Hội cựu TNXP, Hội NKTTMC, Hội CTĐ, Hội Chất độc da cam... đạt được nhiều kết quả. Hội cựu TNXP phối hợp với Hội cấp trên hỗ trợ xây dựng nhà cựu TNXP có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 03 nhà với tổng số tiền là 150 trđ.

B. NHỮNG TỒN TẠI, HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM.

          I. Tồn tại, hạn chế.

- Kinh tế tăng trưởng khá nhưng chưa bền vững, chưa phát huy được nội lực địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa mạnh, chưa chỉ đạo quyết liệt trong sản xuất nông nghiệp, chưa có nhiều giải pháp huy động nguồn lực trong nhân dân, để xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn theo chương trình, nhiệm vụ XD NTM. Là xã có chỉ tiêu XDNTM đạt thấp so với huyện và trong vùng. Chưa khai thác kịp thời tiềm năng, lợi thế của vùng du lịch để phát triển kinh tế Dịch vụ - Du lịch - Thương mại.

- Chất lượng hoạt động của các làng văn hóa chưa đi vào chiều sâu, hàng năm chưa tổ chức sơ kết, tổng kết kịp thời. Công tác thông tin, tuyên truyền, xã hội hóa các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, công tác VSMT thực hiện hiệu quả chưa cao. Chưa chỉ đạo quyết liệt công tác đầu tư cho giáo dục và đào tạo, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp để xây dựng cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị cho các nhà trường; công tác tuyên truyền còn hạn chế, hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng chưa có chiều sâu, còn lúng túng trong việc đưa các giải pháp để xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia, là đơn vị duy nhất trong huyện chưa có trường đạt chuẩn quốc gia.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật chưa thường xuyên. Công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội còn hạn chế. Tình trạng khiếu kiện vượt cấp, đông người vẫn còn sảy ra, đơn thư khiếu nại kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm. Tình hình ANCT, TTATXH diễn biến phức tạp; các tai tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm như ma túy, số đề, đánh nhau gây thương tích,... ngăn chặn chưa kịp  thời.

 - Chất lượng một số kỳ họp của HĐND chưa cao, hoạt động giám sát chưa thường xuyên. Công tác quản lý, điều hành của UBND xã vẫn còn một số việc chưa quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả thấp, công tác quản lý tài nguyên đất đai, lấn chiếm đất đai, làm nhà trái phép chưa cương quyết tháo gỡ, xử lý kịp thời, dứt điểm.

- Công tác tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân chưa được quan tâm thường xuyên, việc phối hợp, đấu mối với chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ và giải quyết các vấn đề nổi cộm ở cơ sở chưa đồng bộ.

 - Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa có chiều sâu. Đảng bộ chưa hoàn thành chỉ tiêu xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh. Chất lượng sinh hoạt một số chi bộ còn hạn chế, đảng viên tham gia sinh hoạt và học tập Nghị quyết chưa đạt mục tiêu đề ra. Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của một số đ/c ĐUV, chi bộ và đảng viên chưa được phát huy. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng nhất là việc phát hiện, uốn nắn, xử lý chưa được thường xuyên và kịp thời. Việc khắc phục sửa chữa khuyết điểm sau NQTW4 chuyển biển chậm.

II. Nguyên nhân

1. Về khách quan. Tình hình kinh tế thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục biến động, giá cả hàng hóa tăng cao; thời tiết diễn biến thất thường, dịch bệnh ở người và đàn gia súc, gia cầm diễn biến phức tạp... đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

2. Về chủ quan. Trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, quản lý điều hành của chính quyền có lúc còn thiếu linh hoạt, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm thiếu quyết liệt; việc triển khai, hướng dẫn thực hiện các chủ trương, chính sách còn chậm, có lúc còn thiếu quyết tâm; còn biểu hiện tư tưởng trông chờ ỷ lại, dễ làm, khó bỏ. Công tác dân vận của hệ thống chính trị chưa được phát huy, chưa có sức lan tỏa, sự phối hợp chưa nhịp nhàng. Còn một số chi ủy chi bộ chưa thực sự nêu cao vai trò, trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương; chế độ thông tin, báo cáo chưa kịp thời. Trách nhiệm, chất lượng tham mưu, thực thi nhiệm vụ của một số cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Còn một bộ phận nhân dân nhận thức về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương đề ra còn hạn chế, nhất là trong việc xây dựng NTM. 

III. Bài học kinh nghiệm.

Một là: Không ngừng nâng cao vai trò, trách nhiệm và năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và phát huy dân chủ trong đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nêu cao tinh thần trách nhiệm người đứng đầu, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

Hai là: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, điều hành của chính quyền nhất là cụ thể hoá nghị quyết của Đảng thành mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, tổ chức thực hiện với quyết tâm cao.

Ba là: Phát huy vai trò phối hợp hành động của MTTQ, các đoàn thể nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy và khơi dậy sự sáng tạo, sức mạnh tổng hợp của toàn thể nhân dân, để tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Bốn là: Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, làm tốt công tác chính trị tư tưởng và công tác dân vận, nhất là việc thực hiện nghị quyết, chính sách của Đảng và các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm.

Năm là: Tích cực huy động nguồn lực trong nhân dân và tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để XD NTM, XD trường chuẩn quốc gia; nắm bắt kịp thời và chỉ đạo quyết liệt công tác ANTT, công tác XD Đảng.