Truy cập

Hôm nay:
201
Hôm qua:
303
Tuần này:
201
Tháng này:
5574
Tất cả:
169183

Ý kiến thăm dò

Phát huy các nguồn lực để phát triển KT-XH. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu KT; đẩy mạnh phát triển CN-TTCN; DV-TM; phát triển VH–XH theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm QP–AN. Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ; phát huy sức mạnh tổng hợp; dân chủ, sáng tạo, đột phá; xây dựng quê hương Hoằng Thanh đến năm 2020 phát triển bền vững.

 Một số chỉ tiêu chủ yếu (đến năm 2020).

(Trong 29 chỉ tiêu, có 25 chỉ tiêu huyện giao, còn 4 chỉ tiêu xã bổ sung là chỉ tiêu số 1, 2, 18 và tiêu chí sô 29)

1. Tốc độ tăng trưởng GTSX bình quân hàng năm: 14%.

2. Cơ cấu kinh tế:  N-L-TS: 24,0%; CN-XD: 29%; DV-TM-DL: 47%.

3. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản: 98.499.000.000đ

4. Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm: 1.251tấn

5. Sản lượng thủy sản bình quân hàng năm: 1.500 tấn trở lên (huyện giao 1.140 tấn)

6. Diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chủ yếu 

- Cây lúa: - Diện tích: 183 ha; - Năng suất: 57 tạ/ha; - Sản lượng: 1.043 tấn

- Cây ngô: - Diện tích: 40 ha; - Năng suất: 52 tạ/ha; - Sản lượng: 208 tấn

7. Tổng đàn gia súc, gia cầm: 17.200 con

Trong đó: Đàn trâu, bò 185 con; lợn 1.400 con; gia cầm 15.615 con

8. Số hộ sản xuất, kinh doanh cá thể: 1.099 hộ

Trong đó: - Nông- Lâm nghiệp: 745 hộ; - TTCN: 200 hộ; - Dịch vụ: 154 hộ

9. Số lượng doanh nghiệp trên địa bàn: 50 doanh nghiệp

10. Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm (so với dự toán huyện giao) 6%

11. Thu nhập bình quân đầu người: 38 trđ/người/năm

12. Tỷ lệ thôn đạt chuẩn nông thôn mới: 57,1%

13. Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn (không tính đường quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ) được cứng hóa: 100%

14. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm: 0,9%

15. Tỷ lệ hộ nghèo: 10,85%

16. Tỷ lệ hộ cận nghèo: 15,52%

17. Tỷ lệ nhà ở kiên cố của các hộ gia đình (tiêu chí là nhà có 3 thành phần gồm cột, mái, tường bao quanh đã được xếp vào loại bền chắc) 85%

18. Số trường đạt chuẩn quốc gia: từ 1- 2 trường

19. Tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi được tiêm phòng hàng năm: 95,59%

20. Tỷ lệ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa: 79%

21. Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa: 100%

22. Tỷ lệ làng, thôn đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: 57%

23. Tỷ lệ che phủ rừng: 8,3%

24. Tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh: 98%

25. Tỷ lệ thôn đạt tiêu chuẩn môi trường: 100%

26. Tỷ lệ khu dân cư đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự: 100%

27. Bình quân hàng năm có 50% chi bộ đảng đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh trở lên.

28. Bình quân hàng năm kết nạp 7 đảng viên mới trở lên.

29. Đảng bộ phấn đấu hàng năm đạt TSVM.                        

    Nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu:

I. Về kinh tế - xã hội; quốc phòng - an ninh.

          1. Phát triển kinh tế  bền vững:

          Trong sản xuất nông nghiệp tiếp tục rà soát, điểu chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất cho phù hợp với điều kiện chân đất của từng xứ đồng. Quy hoạch vùng chuyên màu, vùng sản xuất tập trung chuyên canh cây lạc, ngô, đậu tương, đậu xanh, vừng và các cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như: cây ớt, cây thuốc lào, lúa lai; quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn, rau sạch phục vụ tiêu dùng và cung ứng cho thị trường du lịch. Những vùng có chân đất vàn cao chỉ đạo cho nhân dân cấy một vụ lúa mùa sớm, làm màu ở vụ đông và vụ xuân; những chân đất vùng sâu trũng cấy lúa kém hiệu quả chuyển đổi sang làm mô hình cá lúa kết hợp như: Xứ Đồng Nhón thôn Đại Long, xứ đồng Rấm thôn Liên Hà, xứ đồng Ông Lang Xuân Vi, xứ đồng Cu Đông thôn Quang Trung, xứ đồng Mõ thôn Đông Tây Hải,…Tích cực chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu mùa vụ từ xuân muộn sang mùa sớm để có quỹ đất sản xuất vụ đông. Tăng cường công tác quản lý chất lượng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật tư nông nghiệp. Đổi mới cơ cấu giống, thời vụ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng và đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tăng cường công tác dự tính, dự báo và phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng. Đẩy mạnh công tác chuyển giao KHKT, khoa học công nghệ mới, cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp. Hàng năm phối hợp với trung tâm học tập cộng đồng mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức và chuyển giao tiến bộ TBKH cho nông dân để áp dụng vào sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục tranh thủ các nguồn lực đầu tư của Chính phủ, Tỉnh, của huyện để hỗ trợ đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cơ cấu sản xuất nông nghiệp như; đường giao thông, kiên cố hóa kênh mương nội đồng, điện, cơ sở chế biến tiêu thụ nông sản, địa điểm kinh doanh dịch vụ của HTX nông nghiệp. Quan tâm đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi phục vụ tưới, tiêu ở những vùng còn khó khăn. Đảm bảo tưới, tiêu hợp lý, hiệu quả phù hợp với phương án sản xuất theo quy hoạch của xã. Chỉ đạo tốt công tác tiêm phòng, tiêu độc khử trùng cho đàn gia súc, gia cầm để khống chế tình trạng dịch bệnh, phấn đấu nâng tổng đàn gia súc, gia cầm trên 17.000 con, vận động nhân dân chăn nuôi theo hướng tập trung trang trại, gia trại. Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, phê bình những tập thể yếu kém trì trệ; tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân, làm tốt.

Tập trung cải tạo, mở rộng ao, đồng đảm bảo môi trường sinh thái; phối hợp chỉ đạo nhân dân mua con giống phải có lý lịch rõ ràng, qua kiểm dịch chặt chẽ. Thường xuyên kiểm tra đồng nuôi, ao nuôi, nắm bắt kịp thời những diễn biến bất thường của đối tượng nuôi, nguồn nước, để xác định nguyên nhân và khuyến cáo kịp thời cho nhân dân chủ động phòng tránh, hạn chế lây lan, ô nhiễm trong vụ nuôi. Thực hiện tốt công tác khuyến ngư, chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật, định hướng nuôi phù hợp với từng hình thức nuôi, đối tượng con nuôi và của từng vùng nuôi. Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật, đồng thời kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm như sử dụng thuốc nổ, kích điện, ngư cụ có kích thước mắt lưới bé so với quy định để khai thác thủy sản, không gắn biển số, không có đăng ký, đăng kiểm, gia hạn giấy phép khai thác thủy sản kịp thời cho ngư dân. Chỉ đạo nhân dân củng cố phương tiện hiện có, động viên tuyên truyền, khuyến khích ngư dân nâng cấp cải hoán, đóng mới tàu khai thác tuyến khơi từ nhiều nguồn vốn tự có, vốn vay, vốn huy động khác; đặc biệt là nguồn vốn vay ưu đãi theo Nghị định số 67 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, để ngư dân đóng mới, nâng cấp phương tiện có công suất máy từ 400CV trở lên để khai thác hải sản xa bờ. Chuyển đổi, bổ sung một số nghề khác trên phương tiện đang có và duy trì một số nghề truyền thống có hiệu quả ở tuyến lộng và tuyến bờ như: giã tôm, lưới cua, ghẹ, gõ vây, lưới sứa,…tạo đa dạng nghề và tăng thu nhập cho ngư dân. Các phương tiện khai thác phải được trang bị các phương tiện cứu hộ như áo phao, phao bơi đáp ứng kịp thời trong công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển.

          Tiếp tục phát huy các mặt hàng chế biến truyền thống như: sứa, moi khô, cá khô, nước mắm…đồng thời tạo nhiều mặt hàng mới đảm bảo tốt chất lượng và mẫu mã, đặc biệt là nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm sứa, tạo điều kiện thâm nhập thị trường và tham gia xuất khẩu. Có biện pháp tích cực trong công tác phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế rủi ro trong quá trình sản xuất. Tiếp tục đề nghị Ngân hàng NN&PTNT, Ngân hàng chính sách-xã hội và các tổ chức tín dụng căn cứ chính sách của Nhà nước và các quy định, tạo điều kiện thuận lợi để các hộ ngư dân được vay vốn đầu tư phát triển sản xuất.

Tiếp tục vận động nhân dân duy trì và phát triển dịch vụ vận tải, dịch vụ du lịch. Du nhập một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp vào địa phương. Vận dụng cơ chế chính sách để thu hút, mời gọi các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy, xí nghiệp giải quyết việc làm cho nhân dân. 6 tháng cuối năm 2015 phấn đấu kêu gọi từ 1-2 doanh nghiệp đầu tư vào địa phương, giải quyết việc làm cho trên 1000 lao động.

 Tăng cường vận động và huy động các nguồn lực để xây dựng NTM theo hướng tiêu chí nào dễ làm trước, khó làm sau, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản hoàn thành từ 15-17 tiêu chí XDNTM. Tăng cường công tác quản lý tài chính ngân sách, sử dụng đất, xây dựng cơ bản, khai thác có hiệu quả các nguồn thu, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm những vi phạm trong đầu tư xây dựng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tiêu cực.

2. Về văn hóa- xã hội

Tiếp tục kêu gọi, vận động nhân dân và con em xa quê ủng hộ, đóng góp kinh phí để xã hội hoá các hoạt động VH- XH, phấn đấu XD từ 1-2 trường chuẩn quốc gia; nâng cao chất lượng hoạt động VHVN - TDTT, chú trọng công tác giáo dục toàn diện, quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Xây dựng môi trường văn hóa, môi trường giáo dục lành mạnh, khuyến khích việc học tập của học sinh; Tuyên truyền, quảng bá lịch sử, hình ảnh chùa Hồi Long; rà soát bổ sung thực hiện quy hoạch xây dựng khu trung tâm văn hóa thể thao của xã, nhà văn hóa và nơi làm việc của thôn Tây Xuân Vi đồng thời quy hoạch sân chơi, bãi tập của thôn để nâng cao tinh thần văn hóa - văn nghệ, thể dục thể thao.

Làm tốt công tác y tế, kịp thời phát hiện dịch bệnh, khoanh vùng dập tắt dịch bệnh không để phát sinh lây lan, bùng phát; không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị ban đầu cho nhân dân, đẩy mạnh công tác truyền thông DS - KHHGĐ. Nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin tuyên truyền, chất lượng hoạt động của các làng văn hoá và các phong trào VHVN-TDTT. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, nhân đạo, từ thiện, công tác xóa đói giảm nghèo, phối hợp đào tạo nghề và giới thiệu việc làm mới cho người lao động...

3.Về Quốc phòng- An ninh:

            Thường xuyên tuyên truyền nhiệm vụ QP - AN, trách nhiệm của công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật, ý thức chấp hành chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao nhận thức về 2 nhiệm vụ chiến lược đề cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hoà bình”; “Bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch và đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, quân sự, công an làm tham mưu về công tác QP-AN. Tăng cường sự lãnh đạo trong việc phối hợp của các ban, ngành, đoàn thể, đồng thời không ngừng nâng cao năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện của chính quyền về nhiệm vụ QP- AN. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án 375 và Chỉ thị số 10 về xây dựng khu dân cư an toàn về ANTT, khu dân cư không có tội phạm và TNXH. Nâng cao chất lượng công tác phối hợp điều tra, truy tố và thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong việc mở các đợt tấn công trấn áp tội phạm. Tăng cường công tác kiểm tra, tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc, giải quyết kịp thời những đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân tại cơ sở.

           Tóm lại, nhiệm kỳ tới Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân xã nhà quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, giữ vững truyền thống đoàn kết, thống nhất. Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy dân chủ; vận động và phát huy tối đa các nguồn lực, phấn đấu hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XXVII và Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 đề ra